Dinh thự cho thuê — 8 karakter
Faik Bey
Con trai của Kasım Paşa và là một trong những thanh niên nổi tiếng đào hoa của thời đại. Hắn là một gã công tử salon nông cạn, từng sống ở châu Âu, sành điệu, hư hỏng và được lòng phụ nữ. Mặc dù ban đầu chiếm được trái tim Seniha bằng sự quyến rũ và kinh nghiệm của mình, hắn lại gục ngã trước chính sự thiếu ý chí, thói nghiện cờ bạc và tính cách áp đảo của Seniha. Đến cuối vở kịch, hắn trở thành kẻ đi săn bị săn đuổi; hắn biến thành một gã đàn ông thảm hại, tan vỡ và bất lực, thề sẽ trả thù sau khi Seniha vứt bỏ hắn không thương tiếc, chà đạp lên lòng tự trọng của hắn.
Hakkı Celis
Hakkı Celis, cháu trai của Naim Efendi, là một nhà thơ trẻ lãng mạn, nhút nhát và hướng nội ở đầu tác phẩm, một người ngưỡng mộ Baudelaire và Verlaine. Cậu dành cho Seniha một tình yêu lý tưởng và bệnh hoạn. Tuy nhiên, việc Seniha bỏ sang châu Âu, mối quan hệ dung tục của cô với Faik và sự suy đồi đạo đức chung đã gây ra cho Hakkı Celis nỗi thất vọng sâu sắc. Bước ra từ những khủng hoảng này, cậu dần từ bỏ thơ ca, những cảm xúc cá nhân và mối tình bệnh hoạn đó. Với sự bùng nổ của Chiến tranh Gallipoli, cậu khám phá ra tình yêu dành cho quê hương và dân tộc, những nỗi đau cá nhân được thay thế bằng nỗi đau của xã hội. Cậu dần chuyển mình thành một người lính kiên định và phát triển tư tưởng cá nhân về 'cái chết' thành niềm tin cao cả vào sự 'tử vì đạo' vì lợi ích của đất nước.
Naim Efendi
Ông là một quý ông kiểu cũ trung thành, lịch sự và nhạy cảm, một trong những chính khách nổi bật của thời kỳ Abdulhamid thứ hai. Từ khi còn trẻ, ông đã gìn giữ cẩn thận gia sản của cha mình để lại nhưng không làm nó sinh sôi thêm. Rút lui vào sự ẩn dật vì chán ghét công việc chính quyền, ông là một trong những đại diện cuối cùng mang theo vẻ tinh tế của thời đại 'Istanbulin' của người Ottoman. Mặc dù cố gắng lờ đi sự suy đồi trong dinh thự và lối sống nông cạn, ám ảnh phương Tây của con gái, con rể và các cháu, cuối cùng ông phải đối mặt với sự phá sản hoàn toàn về vật chất lẫn tinh thần. Ông tượng trưng cho sự tồn tại héo mòn của một đế chế đang sụp đổ với những cơn nấc cụt đau đớn và định mệnh.
Sekine Hanim
Con gái của Naim Efendi và Nefise Hanim, vợ của Servet Bey. Bị nghiền nát giữa phe 'cũ' trong dinh thự và phe 'mới' do chồng áp đặt, bà là một người phụ nữ không có chính kiến, ngây thơ và thụ động. Với khung người to lớn và bản tính lười biếng, bà không thể can thiệp vào bất cứ điều gì đang xảy ra. Bà chỉ biết khóc lóc và than vãn, nhưng luôn cúi đầu trước yêu cầu của người chồng độc đoán và những đứa con cáu kỉnh. Bà bất lực trong việc ngăn chặn sự tan rã của gia đình và sự sụp đổ của cha mình.
Selma Hanimefendi
Em gái của Naim Efendi; một quý bà Istanbul có thẩm quyền, thẳng thắn với sự gắn bó mạnh mẽ với truyền thống và lẽ phải. Bà liên tục chỉ trích sự yếu đuối của anh trai mình và công khai lên án ngay từ đầu sự suy đồi trong dinh thự cũng như những đứa cháu và con rể ám ảnh với phương Tây. Bà không ngần ngại ném sự thật vào mặt Naim Efendi và cuối cùng cố gắng cứu anh trai mình khỏi cái kết thảm khốc đang bao trùm gia đình bằng cách đón ông về dưới sự che chở của mình (về nhà riêng).
Seniha
Cháu gái của Naim Efendi là một phụ nữ trẻ đầy tham vọng, không biết điểm dừng và luôn vượt quá giới hạn, ngưỡng mộ châu Âu. Cô xây dựng cuộc sống trên những giấc mơ được sống hoàn toàn tự do trong các tòa lâu đài và salon châu Âu, tách biệt khỏi những khuôn mẫu truyền thống chật hẹp mà ông nội cô đại diện. Cô coi tình yêu như một trò chơi quyền lực, một vấn đề của lòng tự trọng và phương tiện để chinh phục. Mặc dù ban đầu có vẻ non nớt và bất lực trong mối quan hệ đầy hủy diệt với Faik Bey, cô sau đó đã nghiền nát gã đàn ông như một con mèo hoang chơi đùa với con mồi. Cuối cùng, cắt đứt mọi ràng buộc đạo đức và gia đình, cô chạy trốn sang châu Âu với tư cách là nhân tình của một nghị sĩ giàu có. Seniha tượng trưng cho thế hệ mới vật chất, vô định, bị cắt đứt khỏi cội nguồn của một đế chế đang sụp đổ.
Servet Bey
Con rể của Naim Efendi và là thanh tra của Cơ quan Quản lý Nợ công. Một gã tư sản phương Tây hóa không gốc rễ, ghét mọi thứ thuộc về Thổ Nhĩ Kỳ, Hồi giáo và phương Đông, luôn cố gắng bắt chước người Pháp trong mọi khía cạnh. Sau khi nắm quyền, ông ta đã vứt bỏ tất cả đồ nội thất và truyền thống cũ trong dinh thự để xây dựng một lối sống phương Tây hoàn toàn. Với tham vọng ham ăn, tính hợm hĩnh, cơ hội và cuối cùng là việc bỏ rơi bố vợ để dọn đến căn hộ mới ở Şişli, ông phản ánh những mặt biếm họa và đáng ghê tởm nhất của tầng lớp tư sản Istanbul trước thời kỳ Cộng hòa.
Yakup Kadri Karaosmanoğlu
Yakup Kadri Karaosmanoğlu sinh ngày 27 tháng 3 năm 1889 tại Cairo. Cha ông, Abdülkadir Bey, thuộc dòng họ Karaosmanzade lâu đời trong hàng danh gia ở Manisa; mẹ ông tên là İkbal Hanım. Năm ông sáu tuổi, gia đình chuyển về Manisa và ông bắt đầu đi học ở đó, sau lên trung học tại İzmir. Cha mất, cả nhà quay lại Ai Cập, ông hoàn tất việc học ở một trường Pháp tại Alexandria. Năm 1908 ông lên Istanbul, ghi danh học luật nhưng không bao giờ lấy bằng. Một năm sau, ông nằm trong số những người sáng lập nhóm văn chương Fecr-i Âti; các bài viết đầu tiên của ông xuất hiện trên tạp chí của nhóm. Bệnh lao giữ ông lại Thụy Sĩ ba năm. Trở về, ông viết cho báo İkdam và cho ra mắt Kiralık Konak (“Dinh thự cho thuê”), kể cuộc sụp đổ của đế quốc qua ba thế hệ một gia đình; những bài thơ văn xuôi thì được gom vào Erenlerin Bağından. Năm 1921, ông theo đoàn điều tra tội ác chiến tranh đi khắp miền tây Anatolia và tận mắt thấy những ngôi làng tan hoang; chuyến đi ấy đổi hướng ngòi bút của ông. Dưới nền cộng hòa, ông làm nghị sĩ đại diện Mardin rồi Manisa, và năm 1932 góp phần lập ra tạp chí Kadro. Những năm này cho ra đời Yaban (“Kẻ xa lạ”), viết về hố sâu giữa người trí thức và người nông dân, cùng Ankara, theo sát sự ra đời của thủ đô mới. Từ 1934, ông làm đại sứ tại Tirana, Praha, La Hay, Bern và Tehran. Văn ông mộc mạc, dựng trên quan sát; ông xem tiểu thuyết là công cụ phân tích xã hội và đem lại cho văn xuôi Thổ Nhĩ Kỳ một xương sống lịch sử. Trong Panorama, ông tổng kết những thế hệ đi từ đế quốc sang cộng hòa, còn trong hồi ký ông ghi lại cả những mâu thuẫn của chính mình. Năm 1961 ông trở lại quốc hội, năm 1965 rời chính trường. Ông mất tại Ankara ngày 13 tháng 12 năm 1974 và được an táng ở nghĩa trang Yahya Efendi, Beşiktaş.